|
Bàn luận: Giải mă Kinh Thánh
Gia phả tổ
tiên
trong Sáng
Thế Kư.
Thoạt nh́n, chúng ta cảm thấy gia phả
trong Kinh Thánh là phần không có ǵ đặc sắc đáng đọc. Tuy nhiên, bạn sẽ
thay đổi quan điểm sau khi đọc bài viết sau đây. Trong sách Sáng Thế kư,
chương 5 liệt kê danh sách tổ tiên loài người qua 10 thế hệ, từ con người
đầu tiên là A-đam do Chúa tạo dựng trên thế gian cho đến ông Nô-ê, người
cuối cùng trước khi nạn Hồng thủy xảy ra tiêu diệt cả xă hội nguyên thủy,
trừ 8 người trong gia đ́nh ông. Từ họ phát triển nên xă hội hiện đại và các
dân tộc ngày hôm nay.
Gia phả
này cho chúng ta biết được thời gian từ khi Ađam thở hơi thở đầu tiên cho
đến khi Nô-ê ra đời là 1056 năm và nhắm mắt là 2006 năm. Trong các phần sau
của Kinh Thánh, chúng ta được biết cha tổ của dân tộc Do-thái là Áp-ra-ham
sinh năm 1950 kể từ Ađam, chỉ khoảng 300 sau nạn Hồng thủy và 290 năm trước
khi Gia-cốp đến Ai-cập. Người Do-thái làm nô lệ ở Ai cập 430 năm, cho đến
khi Mô-sê đưa họ về đất hứa là xứ Pa-le-stin ngày nay. Lịch dân tộc Do Thái
cho biết Mô-sê sinh năm 2368, chết 2488 kể từ khởi đầu. Ông bắt đầu lănh đạo
dân tộc lúc 80 tuổi tức năm 2448, cách đây 3319 năm (tính đến năm 2007,
tương đương với năm 5767 của người Do-thái). Vậy, gia phả cho chúng ta biết
được thời gian tương đối chính xác về lịch sử nhân loại.
Tên danh
của người Do-thái không có ư nghĩa ǵ đối với người việt chúng ta ngày nay.
V́ tương tự: làm sao người nước ngoài có thể hiểu rằng, hầu hết tên Việt nam
đều chứa đựng hàm ư của người đặt tên? Ví dụ cha mong muốn con trai vững
chắc như núi th́ đặt tên trẻ là Sơn; khi mẹ cầu mong con gái trắng trẻo xinh
xắn th́ gọi nó là Tuyết. Có người đặt tên các con ḿnh theo hệ thống, ví dụ
như có ông cán bộ hàng xóm của tôi đặt tên các con ḿnh là “Quân, Đội, Nhân,
Dân”. Cũng như vậy, Tên danh của người Do thái mang ư nghĩa và nguyện vọng
của người đặt tên. Xin mời các bạn thử đào sâu nghiên cứu tên danh của mười
vị tổ tiên của loài người từ Ađam tới Nô-ê trong gia phả chương 5, sách Sáng
Thế Kư xem có điều ǵ xảy ra.
Ađam có
nghĩa là “người”, (man)
Sết có
nghĩa là “khiến, áp đặt” (appointed).
Ê-nót
(Enosh) có nghĩa là “loài người” / "phàm nhân" (mortal)
Ke-nan
có nghĩa là “buồn phiền, đau đớn, ca thán, bi ai”, (sorrow, dirge, elegy) mô
tả tâm trạng cha mẹ sinh con trong thời loạn lạc tai ương.
Ma-ha-la-le, thực ra là Ma-ha-la-en có nghĩa là Chúa Ân huệ, phước hạnh
(Mahala = ân huệ, phước hạnh, đáng ngợi khen, Ên=Chúa)
Gia-rệt
có nghĩa là “sẽ giáng trần, hiện ra” (, shall come down, Appear).
Hê-nốch
(Enoch). Ở đây có nghĩa là giảng dạy, dạy dỗ.
Mê-tu-sê-la có nghĩa là sự chết sẽ đem lại: Me-tu (muth = death) sự chết,
se-la (shalah = shall bring) sẽ đem lại.
Lê-mếch,
(lament) có nghĩa là những kẻ tuyệt vọng
Nô-ê có
nghĩa là sự yên nghỉ, niềm an ủi.
Bây giờ
thử sắp xếp các tên trên theo thứ tự cha con: A-đam, Sết, Ê-nót, Ke-nan,
Ma-ha-la-en, Gia-rệt, Hê-nốch, Mê-tu-sê-la, Lê-mếch, Nô-ê, chúng ta sẽ có
một đoạn văn như sau “(Bởi tội lỗi),
người khiến người chịu
tai ương,
buồn phiền,
bệnh tật, chết chóc,
đau đớn, bi-ai. (Tuy nhiên,) Chúa ân huệ phước hạnh sẽ giáng trần,
dạy dỗ (cho loài người). Sự chết (của Ngài) sẽ đem lại cho
(nhân loại) tuyệt vọng niềm an ủi và yên nghỉ.” Những chữ trong
ngoặc đơn được thêm vô cho rơ nghĩa.
Bạn đang
thấy ư nghĩa quan trọng của đạo Chúa được mă hóa trong gia phả của tổ tiên
loài người, chương trong Kinh Thánh mà ít người để ư nhất. Điều này minh họa
mọi chữ mọi câu trong Kinh Thánh đều có mục đích và dụng ư, không thể xem
nhẹ bỏ qua. Chúng ta có được mặc khải nếu chăm chỉ t́m ṭi với thái độ khiêm
nhường, khao khát Lời Chúa. Nhiều người không có tŕnh độ thâm uyên về ngôn
ngữ của Kinh Thánh là tiếng Hê-bơ-rơ, hay Hi-lạp, xin hăy chịu khó đến nhà
thờ nghe các mục sư, giáo sư mở khóa, phân tích.
Đức Chúa
Trời Tạo dựng con người, đặt để họ làm chủ thế gian này với sự chúc phước
trên thiên nhiên và cuộc sống. Tuy nhiên v́ phạm tội, tổ tiên chúng ta bị
Chúa rủa xả, con người phải làm lụng vất vả để kiếm ăn, sinh đẻ con cái
trong sự đau đới, bị bệnh tật, đói khát, chiến trận và chết chóc thống trị.
Trong các tên danh của 10 vị kia, có 3 vị mang tên rất tiêu cực như Ê-nót,
Kenan và Lê-mếch minh họa cho t́nh trạng thảm họa của con người. Có dịp nghe
bài hát do Khánh ly thực hiện, trong đó câu “hỡi ôi thân phận làm người...”
được lặp đi lặp lại, các bạn sẽ đồng cảm với tâm t́nh của phụ huynh 3 vị
trên khi đặt tên con ḿnh với ư nghĩa: tai ương, bệnh tật, chết chóc,
buồn phiền, đau đớn, bi-ai. Tuy nhiên Đức Chúa Trời không hề bỏ rơi con
người, mà hứa sẽ ban cho chúng ta một vị Cứu tinh theo đúng thời hạn. Khi
cảm hứng cho phụ huynh đặt tên cho mười vị tiền bối của loài người, Chúa ban
cho chúng ta một sứ điệp: “Một Đấng Ân huệ, Phước Hạnh, Đáng Ngợi Khen sẽ
giáng trần, dạy dỗ loài người và sự chết của Ngài sẽ đêm lại cho chúng ta sự
yên nghĩ và ủi an”. Điều này ứng nghiệm trong Chúa Giê-su.
Theo ư
của các “phê-b́nh-gia”, đến thời Nô-ê có cả triệu người trên dương thế, chọn
tên người này người kia th́ cũng ghép được các câu tùy ư. Sự thực Kinh thánh
không chọn tên người này người kia, nhưng liệt kê chính xác tên của những
người con trưởng trong từng thế hệ, không bỏ rơi thế hệ và cá nhân nào. Nhóm
“phê-b́nh-gia” thứ hai nói rằng tên của những người trên được xếp đặt sẵn,
như ông cán bộ đặt tên “Quân, Đội, Nhân, Dân” cho 4 đứa con ḿnh. Nếu vậy,
trong trường hợp sinh con gái, không thể đặt tên mà xă hội chỉ chấp nhận cho
con trai, hoặc chẳng may mới sinh đứa thứ ba rồi th́ vợ ngừng đẻ, ông sẽ tắc
tị với ba đứa Quân, Đội, Nhân khiến cho hàng xóm vui cười. Vâng, chuyện ông
ấy sắp đặt tên con ḿnh xảy ra trong một thế hệ, trong giai đoạn sinh sản 20
chục năm có thể xảy ra, tuy cũng không trôi chảy chắc chắn. C̣n từ ông A-đam
tới Nô-ê là 10 thế hệ trong ṿng 1556 năm, làm sao sắp xếp tŕnh tự mà
tránh khỏi chuyện “trật đường ray”? Sự sắp xếp này chỉ có được bởi chương
tŕnh kỳ diệu của Đức Chúa Trời. Nhóm “phê-b́nh-gia” thứ ba lư luận, rằng
các nhà sao chép Kinh thánh, sắp xếp tên họ theo trật tự và nội dung của
đạo. Vậy, lấy lư do nào mà những người lănh đạo Do-Thái giáo cho phép con
người sắp đặt Lời Chúa theo ư riêng ḿnh, chưa kể ư ấy minh họa niềm tin cơ
đốc mà người Do-thái coi thường, thù ghét. Họ đâu coi Chúa Giê-su là Chúa Ân
huệ, Phước Hạnh, Đáng Ngợi Khen, đâu chấp nhận chuyện Đức Chúa Trời chịu
chết trên cây thập tự để cứu chuộc bất cứ ai, kể cả dân ngoại bang mà họ
khinh như chó... Người Do-thái không tin vào Tân ước, nhưng mật mă về danh
tên trong gia-phải khởi đầu Cựu Ước lại hoàn toàn phù hợp với sự dạy dỗ
trong Tân Ước, trong sách Tít:
2:11 Vả, ân
điển Đức Chúa Trời hay cứu mọi người, đă được bày tỏ ra rồi. 2:12
Ân ấy dạy chúng ta chừa bỏ sự không tin kính và t́nh dục thế gian,
phải sống ở đời nầy theo tiết độ, công b́nh, nhân đức, 2:13 đang chờ đợi
sự trông cậy Hạnh Phước của chúng ta, và sự hiện ra của sự
vinh hiển Đức Chúa Trời vĩ đại và Cứu Chúa chúng ta, là Đức
Chúa Jêsus Christ, 2:14 là Đấng liều ḿnh v́ chúng ta, để chuộc chúng ta
khỏi mọi tội và làm cho sạch, đặng lấy chúng ta làm một dân thuộc
riêng về Ngài, là dân có ḷng sốt sắng về các việc lành.
(Những đoạn
có gạch chân nhấn mạnh ư nghĩa của các danh có trong gia phả ở trên.)
Các “phê-b́nh-gia” luôn luôn có những lư sự,
nhưng nhiều đọc giả đă t́m thấy đây là điều kỳ diệu minh họa sự cảm ứng
tuyệt vời của Đức Chúa Trời, không những cho các tiên tri mà Ngài mượn tay
để viết Kinh thánh, nhưng cả những phụ huynh tiền bối của loài người, khi họ
đặt tên cho con ḿnh.
“Thân phận người:
Sinh, Bệnh, Lăo,Tử
Phật Thích Ca xác nhận
chẳng sai,
Ơn Huệ Chúa, đúng thời
Giáng thế,
dạy muôn dân đường
sống an bài.
Dẫu thế gian cố t́nh
hại Chúa,
Ngài hy sinh nhằm cứu
tội nhân,
đem hy vọng cho người
tuyệt vọng,
cho kẻ hèn - an nghỉ
thanh b́nh”
Bạn có thể quên tên những tổ tiên loài người
được ghi lại trong gia phả, nhưng ư nghĩa của những danh họ ấy sẽ giúp bạn
tin cậy Kinh thánh và yêu mến đạo Chúa hơn.
Nguyễn Ngọc Lan. | ||||||||||||||||||||||||||