|
Bàn luận:
Xác xuất tinh tinh tiến hóa thành người Liệu
Trái đất có đủ thời gian cho tinh tinh tiến hóa thành người không? Người ta cho rằng loài người có cùng một
tổ tiên chung với tinh tinh và gôrila vào giai đoạn Chương trình nghiên cứu hệ gene quốc tế
xác định rằng đột biến 1 phần tỷ số lượng nucleoit sẽ hủy hoại cơ thể - điều
này có nghĩa rằng mỗi một thế hệ con người được phép đột biến không quá 2
trong số 3.2 tỷ nucleoit.
Giả thiết rằng mỗi thế hệ đều có đột
biến ở mức an toàn tối đa,
48 triệu đột biến cần phải xảy ra trong 24 triệu
thế hệ. Nếu mỗi thế hệ bắt đầu sinh sản lúc 15 tuổi thì cần phải có một
khoảng thời gian
24 triệu x15 năm =360
triệu năm để con tinh tinh tiến hóa thành người. Đây đang nói về lý thuyết,
tức sự đột biến gene xảy ra một các liên tục (trong từng thế hệ nối tiếp),
một cách tối đa (mỗi thế hệ được đột biến không 1 mà 2 nucleoit), và
một cách tích cực (hữu ích cho quá trình tiến hóa).
Trong thực tế sự đột
biến xảy ra một cách gián đoạn, đơn chiếc và cả tiêu cực lẫn tích cực (ví dụ
một đột biến cho mười thế hệ, tiến hóa hai phần, thoái hóa một phần). Nhưng
vậy khoảng thời gian cần thiết sẽ kéo dài hơn gấp nhiều lần, không phải 360
triệu năm nhưng là 7.2 tỷ - 14.4 tỷ năm. Thuyết tiến hóa xác định lịch sử
loài người cỡ 1 – 7 triệu năm và tuổi trái đất mới 4.5 tỷ năm. Thêm vào đó
đột biến xảy ra theo chiều hướng tiêu cực nhiều hơn tích cực, chưa kể các
tác động bên ngoài, như khi một con tinh tinh vừa đột biến tích cực ra đời
bị con cọp chụp mất.... Vậy loài người phải chờ thêm bao nhiêu thế hệ nữa
mới có sự đột biến tương tự xảy ra. Đây chúng ta đang bàn về sự tiến hóa từ
tinh tinh gần gũi nhất đến con người đã lâu như vậy, huống chi khoảng thời
gian cần thiết cho một phần tử vô sinh trở nên hữu sinh, từ đơn bào đơn sơ
đến tế bào cao cấp xa xưa... tiến hóa qua nhiều loài mới tới tinh tinh rồi
cuối cùng thành người. Tuổi trái đất không đủ để các loài tiến hóa bằng cách
đột biến may rủi. Về xác
xuất thành công của một hệ gene hoàn chỉnh của con người Nếu chúng ta tung lên
một đồng xu, mỗi một mặt có xác xuất rơi xuống úp mặt xuống đất =1/2. Nếu
chúng ta tung lên con súc-sắc hình tam giác khối có bốn mặt, bốn mầu, xác
xuất cho mỗi mầu rơi úp mặt xuống đất =1/4. Nếu tung lên hai con súc-sắc
thì xác xuất cùng mầu rơi úp mặt xuống đất =1/4x1/4. Nếu tung lên ba con
súc-sắt, xác xuất ấy =1/4x1/4x1/4 = 1/64. Mỗi
nucleoit
có bốn khả năng xắp xếp
axít amino theo thể loại A,T,C hoặc G. Xác xuất để nucleoit
trở nên loại A (hoặc T, C, G) theo ý muốn =1/4. Hệ gene (genome) con người
có 3.2 tỷ nucleoit, vậy xác xuất cho 3.2 tỷ nucleoit xắp xếp
một cách hữu hiệu thành cơ thể con người là 1/4x1/4x1/4... 3.2 tỷ lần (1/4
mũ 3.2 tỷ ) Bạn có thể nói rằng con
người tiến hóa từ con tinh tinh, gần giống như người nên quá trình tiến hóa
không bắt đầu từ đầu, từ con vi khuẩn, nhưng từ giai đoạn gần cuối, từ hệ
gene có sẵn của con tinth tinh. Dù vậy đi chăng nữa, xác xuất thành công cho
bộ gene của con người cũng không cho phép điều ấy xảy ra một cách may rủi.
Con người có 3.2 tỷ nucleoit, xác xuất để một nucleoit đột
biến là 1 trên 3.2 tỷ. Giữa tinh tinh và con người có 48 triệu nucleoit
đột biến, vậy xác xuất để các đột biến ấy xảy ra hợp là 1 trên 3.2 tỷ giai
thừa 48 triệu, tức 1 trên 153 x 10 mũ 15 (15 số không sau 153, hay 153
triệu tỷ). Nếu không nói xác xuất bằng zê-rô thì bằng cái gì trong khoảng
chân không bao la của vũ trụ. Nếu bạn có khả năng thử
nghiệm mỗi giây một lần, bạn cần 4.5 tỷ năm để thay đổi 48 triệu trong số
3.2 tỷ nucleotide để biến con tinh tinh thành con người. Nếu bạn
còn muốn tìm hiểu
sâu xa hơn... Có hai loại axit aminô: loại kiểu levo
(thiên tả) và loại kiểu dextro (thiên hữu). Khi chiếu tia sáng vô axit
aminô, nếu tia sáng quay sang trái chúng ta có axit aminô thiên tả, nếu tia
sáng quay sang bên phải, chúng ta có axit aminô thiên hữu.
Tất cả các vật
liệu vô cơ chứa số lượng axít aminô kiểu thiên tả và thiên hữu bằng nhau.
Các vật liệu hữu cơ chỉ có duy nhất axit aminô thiên tả.
Môt nucleoit trung
bình có 400 axit aminô, hoàn toàn thiên tả. Xác xuất 1 axit aminô ra đời
kiểu thiên tả =1/2, xác xuất toàn bộ 400 axit aminô của một
nucleoit ra đời toàn
thiên tả là 1/2x1/2x1/2 ... 400 lần (1/2 mũ 400), tức là một trên một ngàn
tỷ, tỷ.... tỷ (13 chữ tỷ sau chữ một ngàn).
Một vật liệu vô cơ không thể tự nhiên biến thành hữu cơ. Giả sử điều đó có
thể xảy ra, thì một nửa số các axit aminô trong một nucleoit phải đột biến
từ thiên hữu sang thiên tả, để tất cả số axit aminô đều thiên tả, chứ
không phải nửa hữu nửa tả. Điều này phải xảy ra một cách đồng loạt bởi
chất hữu cơ có số axit aminô thiên hữu và thiên tả bằng nhau, còn chất hữu
cơ chỉ có axit aminô thiên tả. Không có dạng trung gian, gồm có 1/3 thiên
hữu, 1/3 thiên tả, 1/3 vô định hướng.Trong
trường hợp kễ trên, 200 axit aminô phải chuyển hướng đột xuất với xác xuất
là 1/2x1/2 ... 200 lần (1/2 mũ 200). Thêm một chi tiết. nếu axit
aminô thiên hữu có thể đột biến thành thiên tả thì loại thiên tả có thể đột
biến ngược lại khiến cho khả năng biến vật liệu vơ cơ thành hữu cơ càng khó
hơn, quá trình lâu dài hơn, vượt qua giới hạn cho phép của không gian, thời
gian của vũ trụ và trí tượng tượng của con người Trên đây đang nói về xác xuất hình thành
axit aminô thiên tả của một nucleoit. Vậy xác xuất tất cả các aminô axit
trong 3.2 tỷ nucleoit của con người mang đặt tính thiên tả còn nhỏ hơn 3.2 tỷ lần
nữa. Để chứng kiến sự kỳ diệu của một tế bào
xin mời các bạn xem một đoạn phim sau đây:
Cuộc sống bên trong một
tế bào. Tóm lại ở mức độ tinh vi và
tối thiểu nhất của sinh vật,
thuyết tiến hóa theo phương cách đột biến may rủi đã mất chỗ dựa trong di
truyền học và toán học.
Ý nghĩa sự khác biệt trong hệ gene , Nguyễn Ngọc
Lan, tựa theo
nghiên cứu của Mark Nash
http://thetrumpet.com/index.php?page=article&id=590 | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||